Câu chuyện về "Hải đồ cổ" - doanh nhân một thời lừng lẫy Hải Phòng
Nhắc đến Hải "đồ cổ", người nổi danh bậc nhất đất Cảng, hầu như ai cũng biết. Người ta biết vì ông không những từng giàu nhất Hải Phòng, mà thậm chí giàu nhất Việt Nam.
Kỳ 1: Đại tỷ phú một thời
Nhân vật nổi danh nhất đất Cảng, nhắc đến hầu như ai cũng biết, là ông Bùi Xuân Hải, tức Hải “đồ cổ”. Ông nổi tiếng vì từng là người không những giàu có nhất Hải Phòng, mà có thể còn giàu nhất Việt Nam. Nhưng giờ đây, sau 4 lần đi tù, vị đại gia này đã biến thành “Chúa Chổm”. Có thể một ngày nào đó, ông phải ra đường vì không có nhà ở. Dù vậy, ông vẫn miệt mài ngày đêm viết hàng chục đề án gửi lãnh đạo cấp cao, những mong biến Việt Nam thành cường quốc như điều Bác Hồ mong ước khi còn sống.
7 năm trước, tôi về “Tiểu Đồ Sơn” gặp ông Bùi Xuân Hải. Giữa trưa hè nắng chang chang, trong bộ đồ trắng toát, với áo trắng, quần trắng, tất trắng và đôi giày cũng màu trắng, ông dẫn tôi đi dưới những tán cây rợp bóng. “Tiểu Đồ Sơn” của ông khách ra vào nườm nượp ăn nhậu, vui chơi, bơi lội. Bể bơi rộng mênh mang nằm giữa khu resort là địa chỉ nổi tiếng thu hút người Hải Phòng đến giải nhiệt trong những ngày hè.
Ông Hải chỉ tay bảo: “Đây sẽ là khách sạn 6 tầng, trên nóc khách sạn là cung điện thần Vệ Nữ. Trung tâm khu sinh thái là tượng Phật cao 27m, nặng 500 tấn. Phía góc phải sẽ là một lâu đài sứ dát vàng tầm cỡ kỳ quan thế giới”.
Cả một ngày trời, ông Hải “đồ cổ” dẫn tôi đi lòng vòng trong hệ thống trưng bày đồ gốm sứ. Phải nói rằng, tôi đã sững người trước vẻ đẹp vương giả của những đồ gốm sứ do ông tạo ra, những món đồ tưởng như chỉ có trong cung vua phủ chúa ở vương quốc Trung Hoa xa xưa.
Ông Hải trình bày khát vọng biến Hải Phòng thành “vương quốc gốm sứ” của thế giới, đánh bại nền gốm sứ hoa lệ nổi tiếng cả ngàn năm nay của Trung Quốc. Phải công nhận đồ gốm của ông đẹp, quá đẹp là đằng khác, nhưng ngay lúc đó tôi nghĩ, những thứ dát vàng đắt tiền ấy chỉ phục vụ giới giàu có, chứ người bình dân dùng làm sao được, nên để phát triển mạnh mẽ không phải là chuyện đơn giản.
7 năm sau gặp lại, thứ không thay đổi ở con người ông, là trang phục trắng toát từ đầu đến chân, cùng một khát vọng lớn lao vẫn không ngừng chảy trong huyết quản. Nhưng cái resort từng tấp nập người ra vào thì cỏ mọc um tùm, vắng ngắt. Bèo nổi lềnh phềnh ở bể bơi. Hòn giả sơn khổng lồ nước chảy róc rách bị trùm kín bởi cỏ và dây leo. Gian nhà rộng lớn ngay mặt đường từng là nơi trưng bày một loại gốm dát vàng cao cấp giờ cửa đóng then cài. Đồ gốm sứ quý giá ông đã chuyển hết vào căn nhà cấp 4 bên trong và khóa kín. Phần lớn dãy nhà xưởng phía sau resort bỏ hoang, chỉ còn vài xưởng hoạt động cầm chừng.
Hẹn gặp ông Hải vào lúc 9h sáng, song ông còn đang tiếp khách. Tôi lang thang chơi trong resort một lát, thì ông ra gọi tôi bảo: “Cậu vào đây với tớ để chứng kiến nỗi khổ của doanh nghiệp khi Nhà nước thực hiện chính sách thắt lưng buộc bụng. Dù xấu hổ lắm, nhưng tớ muốn cậu biết để nói cho cả nước hiểu và thông cảm cho doanh nghiệp trong hoàn cảnh khó khăn, bi đát này”.
Đôi lộc bình tuyệt đẹp vẽ thủ công bằng bột vàng trị giá hơn 100 triệu đồng.
Trong căn phòng làm việc của ông, hai người phụ nữ thi nhau quát tháo gia chủ, thậm chí thóa mạ bằng ngôn từ bậy bạ. Ông Hải bảo: “Tớ từng coi cô ấy như đứa em gái, nhưng giờ, vì xiết nợ, mà cô ấy gọi tớ là thằng. Nhục lắm, nhưng không biết làm thế nào”.
Chuyện là, để có tiền trả lương cho công nhân, cán bộ, ông Hải vay nóng của người đàn bà này số tiền 500 triệu, tính lãi theo ngày. Để duy trì cái doanh nghiệp thoi thóp này, không muốn mất đi nghề vẽ gốm sứ bằng vàng ròng mà ông mất bao tâm huyết gây dựng, nên ông phải vay mượn khắp nơi và biến thành “Chúa Chổm”. Khoản vay nóng 500 triệu của người đàn bà này, chỉ 10 tháng sau, lãi mẹ đẻ lãi con, đã biến thành gần 5 tỷ đồng. Họ tróc nợ bằng cách đến tận nơi tổng xỉ vả ông Hải.
Để hoàn thiện bình gốm như thế này, một nghệ nhân phải vẽ trong 2 tháng trời.
Tôi thực sự rùng mình với cách cho vay nặng lãi kiểu giết người ở Hải Phòng. Ông Hải bảo, trong thời buổi Nhà nước thắt lưng buộc bụng này, các doanh nghiệp chết như ngả rạ, nhưng giới cho vay nặng lãi thì giàu sụ nhanh chóng. Giới cho vay nặng lãi chạy siêu xe đầy đất Cảng.
Hai người đàn bà này chỉ dừng tổng xỉ vả và ra về khi ông Hải viết cam kết sẽ thanh toán cả gốc lẫn lãi vào một ngày cố định.
Hai người đàn bà đòi nợ đi khỏi, ông Hải lại quay về tâm trạng bình thường. Có vẻ như chuyện ông đối đầu với dân đòi nợ quá quen rồi. Tôi bắt đầu mường tượng ra cảnh khốn cùng lại bắt đầu vây hãm vị đại gia từng giàu có nghiêng ngả đất Cảng này. Ở cái tuổi ngót 70, dù không phải đối mặt với cảnh tù đày nữa, song có thể ông sẽ rơi vào vòng vây của nợ nần, mà cái vòng vây đó, còn khủng khiếp hơn cả nhà tù.
Ngày mới ra tù, ông bán hết gia sản, đồ cổ để đầu tư vào dự án du lịch “Tiểu Đồ Sơn” nằm ngay cạnh con đường dẫn ra bãi biển Đồ Sơn, với khát vọng biến nó thành nơi ăn nghỉ hàng đầu của thành phố và là địa điểm triển lãm, giao lưu của giới buôn bán, sưu tầm gốm sứ hàng đầu thế giới. Dự án này được duyệt năm 1996 và ông đã đi tắt đón đầu bằng cách đầu tư vào đây tổng cộng 8 triệu USD. Thế nhưng, thủ tục về đất đai thì đến giờ vẫn chưa xong, và thế là, nó là nguyên nhân của một cuộc cưỡng chế, phá dỡ.
Sau cuộc cưỡng chế, tất nhiên số tiền đầu tư đổ xuống sông, xuống bể. Mảnh đất rộng 2 héc-ta giữa thành phố Cảng không có sổ đỏ nên không thể thế chấp vay vốn đầu tư, thế là resort biến thành bãi hoang, ông trở thành “Chúa Chổm”.
Dù còn nặng gánh lo toan, song ông Hải "đồ cổ" vẫn lo cho tương lai đất nước.
Dù sống trên đống nợ nần, có nguy cơ trở lại nhà tù bất cứ lúc nào, song ông Hải không quá bận tâm về điều đó. Tôi nhận thấy ở nhà kinh tế này một sự lãng mạn đến lạ. Ông dẫn tôi vào căn phòng chất ngất các loại sách báo. Ông sưu tầm giữ gìn cẩn thận bất cứ tờ báo nào viết về vấn đề đất đai, đường lối, chính sách pháp luật, chỉ số kinh tế trong nước và thế giới. Ông cắt những bài báo quan trọng và lưu giữ cẩn thận. Từ những bài báo, những con số, ông phân tích, tính toán và đưa vào các học thuyết của mình.
Ông Hải đeo cặp kính gọng vàng (thứ duy nhất trên người ông không phải màu trắng) lôi ra từng tập tài liệu dày cộp, là những dự án ông viết trong mấy chục năm nay. Trong số đó, có tới 11 dự án nhằm biến Việt Nam thành cường quốc hùng mạnh, thành con rồng của thế giới. Ông nắn nót con chữ “thân tặng” và một chữ ký khác người dài ngoằng, chiếm non nửa trang giấy.
Khát vọng biến Việt Nam thành cường quốc bắt đầu từ cuộc đời như một tấn bi hài kịch của ông.
“Vua đồ cổ” và 2 tấn vàng ròng
Chỉ trong khoảng 10 năm, ông Hải đã có trong tay 2 tấn vàng, một số vàng có thể mua được một góc thành phố cảng.
Ông Bùi Xuân Hải sinh ra và lớn lên ở huyện Ân Thi (Hưng Yên) trong một gia đình rất nghèo. Hải là anh cả trong gia đình có 5 anh chị em. Tuy nhiên, Hải không chịu đói khổ như bạn bè đồng trang lứa, mà luôn vận động tìm cách kiếm sống.
Ngoài lúc đi học, Hải đi chăn trâu giúp bố, nhưng Hải toàn rả rông trâu ngoài đồng rồi đi khắp thôn xóm nhặt nhạnh lông vịt, lông ngan. Cứ tích tiểu thành đại, mang bao lông vịt, lông ngan đi bán, cũng kiếm được mấy kg gạo, đủ cho gia đình no bụng vài ngày.
Hải là một cậu bé cực kỳ thông minh, học giỏi, năm nào cũng đoạt danh hiệu học sinh giỏi. Ngoài học giỏi, Hải luôn có ý tưởng sáng tạo khác người.
Ông Hải vẫn rưng rưng khi nhớ lại cảm xúc đầu tiên, mà giây phút định mệnh ấy đã định hướng cả cuộc đời ông. Một ngày tháng 9 năm 1955, khi Hải mới học lớp 4, lúc đó 12 tuổi, được thầy giáo mời đến nhà chơi. Thấy nhà thầy có giá sách, Hải chúi mũi vào những cuốn sách đọc ngấu nghiến.
Trong cuốn sách ấy, có lời kêu gọi của Bác Hồ: “Non sông Việt Nam có trở lên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu”. Đọc những lời ấy, Hải thấy như Bác đang nói bên tai mình. Chẳng hiểu vì sao, Hải khóc như mưa, nhòe cả trang sách.
Ngay lúc đó, trong thâm tâm cậu bé Hải đã nguyện đi theo con đường Bác Hồ đã chỉ dẫn. Hải quyết tâm tự hứa với bản thân mình sẽ làm một điều gì đó thật lớn lao, để biến đất nước mình thành cường quốc, sánh vai được với năm châu bốn bể như điều Bác mong mỏi. Cho đến lúc này, với ông Hải, Bác luôn là một vị Thánh, mà ông luôn đặt ở một vị trí trang trọng nhất trong trái tim mình.
Mang khát vọng làm giàu cho Tổ quốc từ bé, nên Hải rất mê môn địa lý, đặc biệt quan tâm đến những vấn đề kinh tế vĩ mô của quốc gia và quốc tế. Mới 15 tuổi, song Hải có thể đối thoại ngang ngửa với thầy cô về môn học này.
Năm cuối phổ thông, Hải được giải thưởng học sinh giỏi cấp quốc gia, được tuyển thẳng vào Khoa địa lý Kinh tế, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.

Tác phẩm nghệ thuật bằng sứ vẽ vàng tuyệt đẹp do ông Hải tạo ra.
Ngày học đại học, Đài Phát thanh Liên Xô (cũ) phát động cuộc thi tìm hiểu về Lênin, Hải đã tranh thủ tham gia và giành giải nhì. Phần thưởng là chiếc đài Liên Xô. Tuy nhiên, Hải không dùng, mà bán lấy mấy chỉ vàng rồi cất kỹ. Khi đó, mấy chỉ vàng là một tài sản rất lớn.
Năm 1972, Đài Phát thanh Moscow tổ chức cuộc thi tìm hiểu về đất nước Liên Xô. Cả nước tưng bừng náo nhiệt viết bài dự thi để thể hiện tình yêu với đất nước anh em. Hải coi đây là cơ hội kiếm tiền. Hải đã kỳ công viết bài dày tới 7cm, nặng 4kg và lại giành giải thưởng. Giải thưởng là mô hình tháp truyền hình bằng bạch kim. Hải cũng đem bán nốt lấy mấy chỉ vàng giắt túi làm vốn.
Là sinh viên xuất sắc, nên ra trường, Hải được nhận ngay về Trường PTTH Phù Cừ (Hưng Yên) giảng dạy môn địa lý. Trong suốt 13 năm giảng dạy, Hải liên tục là giáo viên dạy giỏi cấp Quốc gia.
Vẽ vàng trên sứ tại xưởng của ông Hải.
Hồi làm giáo viên, ông thầy giáo này vẫn nung nấu làm kinh tế. Hải nhận việc quản lý bếp ăn, rồi đưa cả 3 người em đến vừa học vừa giúp đỡ anh. Bếp ăn của trường Phù Cừ khi đó ngon và rẻ nhất Hưng Yên. Sau này, chuyển sang dạy ở trường Văn Giang, bếp ăn Văn Giang lại nổi tiếng cả tỉnh. Vừa dạy học, vừa nấu ăn kiếm tiền, vừa tranh thủ thả ngan ngoài đồng, Hải có thêm vốn giắt lưng nuôi mộng làm giàu.
Thời kỳ đó, ông đã đọc đủ các loại luận thuyết kinh tế, thuộc làu quy luật kinh tế của Marx, song vẫn chưa tìm được đường đi cho mình trong hoàn cảnh bao cấp lạc hậu, nơi mà mọi thứ đều trói buộc những người có khát vọng làm giàu.
Lần đến thăm nhà một em học sinh đã làm thay đổi cuộc đời của ông Bùi Xuân Hải. Nhà em học sinh này ở Phố Nối. Bố em bị bệnh lao phổi, cứ ôm chiếc bình sứ cũ bẩn để khạc đờm.
Nhìn cảnh phụ huynh cứ dán miệng vào cái bình sứ cáu bẩn, ông Hải đã ra chợ mua tặng chiếc bô sứ khảm trai mới tinh, chuyên dùng để khạc nhổ. Cậu học trò đem chiếc bình cũ đi đánh rửa thì thấy hiện lên hình ảnh các thiếu nữ váy áo thướt tha, với nước men xanh ngọc sang trọng. Thấy chiếc bình đẹp, cậu học trò mang đến tặng thầy.
Lúc đó ông Hải cũng nhận thấy cái bình rất đẹp, màu men lạ, hình 8 thiếu nữ rất sinh động. Gõ lên chiếc bình sứ thì tiếng kêu thanh thoát và vang như tiếng chuồng đồng. Ông Hải đặt chiếc bình lên đôn gỗ. Mỗi lần mệt nhọc, ngắm chiếc bình lại phát hiện ra một vẻ đẹp mới và cảm giác như nó có sức hút ma mị.
Một ngày, người bạn từ Hà Nội đi cùng người nữa về chơi. Thấy chiếc bình cổ, anh này cứ dán mắt vào. Theo anh ta, đó là chiếc bình bát tiên, thuộc loại tối cổ. Sau khi xem xét cả buổi, người này đòi mua với giá 2 cây vàng, bằng mấy ngôi nhà ở quê lúc bấy giờ.
Biết giá trị của cái bình rất lớn, nên ông Hải quyết định không bán. Mấy hôm sau, anh này cũng giới buôn đồ cổ ở Hàng Khay lại tìm về và nâng giá lên 7 cây vàng. Với số tiền khổng lồ đó, ông Hải không thể từ chối. Một cái bình cũ kỹ, mà giá trị bằng 10 năm đứng lớp.
Chỉ một cái bình cũ, mà biến một ông giáo nghèo thành một người giàu, khiến Hải trằn trọc suy nghĩ. Và Hải quyết định làm một việc mà khiến gia đình, đồng nghiệp coi là ngớ ngẩn: săn tìm thu mua bình lọ và tất cả những thứ cũ kỹ. Ngày đó, người dân chưa biết giá trị của những thứ đồ cũ, nên cứ vừa bán vừa cho, do đó, Hải thu mua rất dễ, chẳng mấy mà gom được đầy nhà. Những thứ đó, Hải bán lại cho giới chơi đồ cổ, thu về không biết bao nhiêu tiền của, vàng bạc.

Suốt đời ông Hải mong ước thực hiện lời Bác dạy.
Việc mua bán đồ cổ lên như diều gặp gió. Từ vài cây vàng trong tay, cứ mua đi bán lại, đến năm 1980, chỉ trong khoảng 10 năm, ông Hải đã có trong tay 2 tấn vàng, một số vàng có thể mua được một góc thành phố cảng. Những chuyến tàu chở đầy toa đồ cổ từ TP. Hồ Chí Minh ra Hà Nội, rồi đi các nước đem về cho ông không biết bao nhiêu vàng bạc, đô la. Đồ cổ chất ngập trong ngôi biệt thự khổng lồ ở 14 Phạm Bá Trực. Từ Bắc vào Nam, ông có tổng cộng 200 điểm cất giữ đồ cổ, vì nhà cửa ở Hải Phòng không đủ chỗ để. Cái tên Hải “đồ cổ” bắt đầu nổi danh khắp nước từ đó. Người ta gọi ông Hải là “vua đồ cổ”.
Ông Hải nói vui: “Ngày đó buôn bán vàng bạc châu báu, đồ cổ chả ai cấm. Tôi dùng xe tải chở đồ cổ nghênh ngang ngoài đường, dùng tàu chở đồ cổ đi khắp biển chẳng ai bắt, nhưng hễ chở mấy cân gạo hay vài con ngan là bị gây khó dễ ngay”. Ngành nghề kinh doanh của ông Hải khi đó quả là độc đáo, chẳng ai có thể nghĩ đến được.
Vua đồ cổ: 4 lần vào tù và 200 triệu USD thành mây khói
Buôn đồ cổ, đồ cũ từ nước ngoài về, tài sản của ông khi ấy ước tính đến 200 triệu USD. Với số tài sản này, người ta xếp ông vào hàng ngũ số ít người giàu có nhất nước.
Vừa buôn đồ cổ, vừa buôn đồ cũ từ nước ngoài về, ông Bùi Xuân Hải trở thành một đại gia vô cùng giàu có. Khi đó, tài sản của ông ước tính lên đến 200 triệu USD, một số tiền khổng lồ thời bấy giờ. Với số tài sản ấy, người ta đã xếp ông vào hàng ngũ số ít người giàu có nhất nước.
Vừa buôn bán đồ cổ, ông Hải vừa đưa ra nhiều ý tưởng kinh doanh, đổi mới và được Bí thư thành phố Đoàn Duy Thành lưu ý, áp dụng. Lãnh đạo thành phố đã sắm tàu lớn để làm ăn, buôn bán với nước ngoài.
Nhờ có một số người mạnh dạn làm ăn, coi “phi thương bất phú” như ông Bùi Xuân Hải và được sự hỗ trợ của lãnh đạo thành phố nên Hải Phòng nhanh chóng biến thành trung tâm kinh tế lớn của cả nước. Chợ Sắt và bến cảng biến thành nơi trung chuyển các loại hàng hóa từ nước ngoài nhập vào.
Tiền của rủng rỉnh, ông Hải đánh cả tàu lớn sang Nhật mua đồ cũ. Ngày đó, ở bên Nhật, xe Cub cũ vứt la liệt ở bãi rác. Chỉ việc trả cho công an Nhật 5-10 USD/chiếc, ông Hải có được giấy phép đem xuống tàu. Rồi các loại tivi, xe đạp, quần áo cũ, mua rẻ như cho. Thế nhưng, những thứ đó về đến Việt Nam thì đắt như vàng. Mỗi chuyến tàu cập cảng Hải Phòng, ông Hải lãi vài triệu USD là chuyện bình thường.
Vừa buôn đồ cổ, vừa buôn đồ cũ từ nước ngoài về, ông Bùi Xuân Hải trở thành một đại gia vô cùng giàu có. Khi đó, tài sản của ông ước tính lên đến 200 triệu USD, một số tiền khổng lồ thời bấy giờ. Với số tài sản ấy, người ta đã xếp ông vào hàng ngũ số ít người giàu có nhất nước. Tuy nhiên, làm ăn được vài năm, thì thông tin “Hải Phòng dùng đồ cũ, rác thải tư bản” đến tai trung ương, thế là cơ hội làm giàu từ buôn bán đồ cũ bị dừng lại.
Đồ gốm sứ do doanh nghiệp của ông Hải làm ra
Ông Hải tâm sự: “Tôi là người luôn có tư tưởng đổi mới, luôn đi trước thời đại vài chục năm, nên làm gì cũng mạnh dạn. Tuy nhiên, chính sự mạnh dạn này, mà tôi phải trả giá bằng 4 lần đi tù”.
Lần đi tù hài ước nhất vào năm 1981 mà nhắc lại nhiều người Hải Phòng vẫn biết, là vụ ông Hải đi mua đồng đen ở Thái Thụy (Thái Bình). Để mua được cục đồng đen, ông Hải đã mang theo 1,7kg vàng. Khi chủ nhà đưa ra cục đồng hun đen và bị ông Hải phát hiện, thì công an ập vào thu sạch cả “đồng đen” lẫn vàng.
Lần đó, ông Hải ngồi trại 2 tháng vì buôn hàng quốc cấm. Khi những công an thoái hóa kia bị bắt, ông Hải mới biết họ dựng màn kịch mua bán cốt để cướp tiền của người mua. Màn kịch của họ là sẽ cướp tài sản, rồi mặc kệ cho người mua và người bán trốn thoát. Nhưng ông Hải không chạy trốn, muốn làm cho ra chuyện, nên cả ông và mấy vị công an đều đi tù.
Sản phẩm sứ của ông Hải làm ra không kịp bán, nhưng vì thiếu vốn nên không thể tiếp tục đầu tư phát triển rộng
Ngày Bộ trưởng Bộ Giáo dục Nguyễn Thị Bình về Hải Phòng tìm cách kiếm tiền cho Bộ, bà đã được ông Đoàn Duy Thành giới thiệu Bùi Xuân Hải. Khi đó, bà Bình mới biết, trong ngành giáo dục có một nhân vật giàu có đứng đầu cả nước. Thế là, ông Hải theo bà Bình về Hà Nội nghĩ cách làm giàu cho Bộ.
Ông Hải đã đề xuất thành lập Công ty Thiết bị giáo dục, trong đó có một nhiệm vụ lạ là huy động học sinh thu gom phế liệu. Khi đó, học sinh cả nước cùng đi gom các loại phế liệu bán cho nhà trường, nhà trường chuyển lên cho công ty để tái chế. Thế hệ học sinh những năm 80 đều còn nhớ rõ sự kiện này. Thế nhưng, nhà máy chế biến phế liệu vừa xây xong, thì năm 1986 ông Hải bị bắt vì tội đầu cơ đồ cổ. Dự án làm giàu cho Bộ Giáo dục cũng đổ vỡ.
Phiên tòa mở vào năm 1987, sau 21 tháng điều tra. Tòa án tuyên phạt 21 tháng tù giam với ông và như vậy ông được thả ngay tại tòa, vì thời hạn tạm giam vừa đủ 21 tháng. Lần đi tù này ông Hải bị thiệt hại lớn vì hàng vạn món đồ cổ bị thu sạch.
Từ một doanh nghiệp với 4000 công nhân lành nghề, sau mấy lần đi tù, hoạt động sản xuất giờ chỉ cầm chừng
Ra tù, ông Hải dồn hết vốn liếng lập Công ty Havico với nhà xưởng, máy móc hiện đại bậc nhất thời bấy giờ. Công ty này chuyên sản xuất đồ gốm sứ và đồ giả cổ. Từ một ông thầy giáo, song nhiều năm nghiên cứu đồ cổ, ông đã nắm được các bí quyết để làm ra những món đồ vừa đẹp, vừa bền lại sang trọng. Công ty nhanh chóng phát triển mạnh mẽ với hệ thống 5 doanh nghiệp trực thuộc, có 4000 công nhân.
Thời điểm đó, Havico là doanh nghiệp duy nhất ở nước ta có thể xuất khẩu hàng hóa sang Đông Âu. Nhà nước đã chọn doanh nghiệp này để xuất khẩu hàng hóa nhằm trả nợ cho Nhà nước. Chỉ 2 năm, công ty đã xuất khẩu lượng hàng hóa trị giá 8 triệu USD.
Vì công ty sản xuất hàng để trả nợ cho Nhà nước, nên ông Hải được ưu đãi vay ngân hàng tới 17 tỷ đồng. Nhưng họa vô đơn chí, công ty đang ăn nên làm ra, thì Liên Xô và Đông Âu sụp đổ. Các nước không thanh toán được tiền hàng, trong khi nợ ngân hàng một khoản tiền lớn. Thế là, năm 1997, ông Hải bị bắt vì tội: “Lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa”.

Ông Hải ngày mới ra tù
Đây là kiểu hình sự hóa các quan hệ kinh tế, đã khiến hàng loạt doanh nhân trong thời kỳ đó phải ngồi tù. Theo ông Hải, chỉ cần Nhà nước gia hạn cho ông, chờ nung 300 ngàn đồ gốm sứ, rồi xuất sang Nhật, cũng thừa trả. Đấy là chưa kể tài sản của ông là những kho đồ cổ với những món đồ tuyệt đẹp. Thế nhưng, những món đồ gốm chưa nung chỉ được coi là đất sét, còn mấy kho đồ cổ là tài sản của ông thì bị tịch biên. Nếu phát mại những thứ đó, thì thừa sức để ông trả nợ ngân hàng. Thế nhưng, ông đã bị tuyên một cái án oan 20 năm tù.
Hồi ở tòa, bà Thẩm phán chất vấn ông: “Ông chỉ là một thầy giáo địa lý, không được học hành kinh doanh, thì làm sao ông hiểu luật và biết kinh doanh mà lập doanh nghiệp làm giám đốc?”.
Ông Hải chơi xỏ bà Thẩm phán thế này: “Nếu có một cuốn sách dạy mua hàng chỗ này, bán hàng chỗ kia, và chắc chắn thu lãi, thì cả nước ta đều trở thành tỷ phú hết. Nhưng ở đời không có cuốn sách đó. Theo luật pháp, tôi có một dự án khả thi và một số tiền vốn cần thiết thì tôi có quyền thành lập công ty và đương nhiên tôi là giám đốc. Còn việc kinh doanh như thế nào thì hoàn toàn phụ thuộc vào tài năng của từng người. Cũng như chị và chồng chị đã đến phường đăng ký kết hôn thì đương nhiên chị được làm vợ và anh ấy được làm chồng. Còn có con hay không, con trai hay con gái là tuỳ phúc phận của mỗi người chứ khi đăng ký kết hôn, nhà chức trách không hỏi anh chị rằng đã học cách lên giường chưa?”.
Với cái kiểu trả lời chế nhạo thế, thì ông nhận mức án 20 năm tù là điều dễ hiểu. Thế nhưng, trong phiên tòa phúc thẩm, với bộ óc cực kỳ thông minh, sắc sảo, thuộc luật như thuộc thơ, không cần đến luật sư, một mình ông đứng “cãi” để rồi tòa phải tuyên… trắng án.
Công trình nghiên cứu chiến lược về đất đai dày 200 trang do ông Hải viết trong tù
20 tháng ngồi tù oan, Nhà nước quyết định bồi thường cho ông Hải 1,7 tỷ đồng. Tuy nhiên, ông không chấp nhận mức bồi thường đó, vì thực tế, vì vụ án này, doanh nghiệp khổng lồ của ông bị đóng cửa, tổng tài sản thiệt hại lên đến cả trăm, thậm chí cả ngàn tỷ đồng. Đã vậy, từ bản án oan này, ông đã biến thành “Chúa Chổm”.
Ra tù, người đàn ông này vẫn không nguôi khát vọng làm giàu. Ông cùng với công nhân phát cây cỏ mọc như rừng trong sân công ty rộng tới 3 héc-ta, khôi phục lại máy móc, lò nung. Ông làm việc ngày đêm nhằm vực lại doanh nghiệp. Ông đã làm một đề án xây dựng lâu đài sứ, mà ông gọi là trường ca đất và lửa. Mô hình thì đã xong, chỉ còn bắt tay vào thực hiện nữa thôi.
Thế nhưng, công việc đang dang dở thì năm 2002, ông Hải lại bị bắt giam vì vi phạm Luật đất đai và bị tống vào tù 14 tháng. Khi đó, giọng ông trước tòa không còn đanh thép nữa, mà đã khản đục vì căn bệnh ung thư vòm họng. Lần ngồi tù này, trước ranh giới sự sống và cái chết, ông Hải đã làm được 2 điều đặc biệt.
Thứ nhất, ông đã hoàn thành công nghệ vẽ vàng ròng lên đồ sứ trước khi đem nung. Sau này, khi ra tù, ông đã đầu tư lò nung và thực hiện thành công công nghệ này. Ông là nghệ nhân duy nhất ở nước ta thực hiện được việc vẽ vàng trên sứ và khách hàng ruột của ông chính là người Trung Quốc, nơi gốm sứ phát triển nhất thế giới. Trong một hội chợ quốc tế về gốm sứ, sản phẩm của ông đã đánh bại gốm sứ Trung Quốc và là sản phẩm duy nhất đoạt cúp vàng.
Điều đặc biệt thứ hai là ông đã hoàn thành một công trình tầm cỡ có tên “Công trình nghiên cứu khoa học kinh tế chiến lược về đất đai Việt Nam”. Đây là một công trình nghiên cứu đặc biệt, mà ông viết bằng kinh nghiệm máu xương với sự trả giá bằng tù đày của mình. Từ công trình này, như một bệ phóng, hàng loạt đề án hiến kế làm giàu cho đất nước đã ra đời.
"Vua đồ cổ": Việt Nam có “núi tiền” trị giá 1.200 tỷ USD!
Theo "vua đồ cổ" Bùi Xuân Hải, đến năm 2020, giá trị vốn đất của chúng ta không phải 1.200 tỷ USD nữa, mà sẽ là 3.000 tỷ USD.
Qua các tính toán chi tiết của ông Hải, từ đất rừng đến đất biển, từ nông thôn đến đô thị, hiện tại, giá trị quỹ đất của chúng ta, nếu được vốn hóa, sẽ mang lại lượng tiền từ 1.000 đến 1.200 tỷ USD, một con số khổng lồ, đủ để chúng ta có thể hiện đại hóa đất nước và phát triển thần kỳ.
Phải nói rằng, tôi đã đọc “Công trình nghiên cứu khoa học kinh tế chiến lược về đất đai Việt Nam” của ông Bùi Xuân Hải một cách ngấu nghiến và phát hiện nhiều điều bất ngờ.
Điều bất ngờ lớn nhất là sự tiên tri trong cuốn sách này. Tôi trộm nghĩ, giới buôn bất động sản đọc được tài liệu này từ 9 năm trước và thực hiện theo, thì chả khác nào vớ được đống vàng.
Ông Bùi Xuân Hải ở resort Tiểu Đồ Sơn
Mặc dù ngồi trong tù, song ông vẫn hoàn thành một cuốn sách với những số liệu ngồn ngộn. Theo đó, từ năm 2002 (khi đó giá đất đã tăng quá cao, được các chuyên gia khẳng định là bong bóng), ông dự đoán, với sự tăng trưởng kinh tế như hiện nay, đất đai Việt Nam sẽ còn tăng giá trị lên gấp nhiều lần. Đến năm 2010, giá đất ở Việt Nam sẽ còn tăng gấp 10 lần, thậm chí vài chục lần. Đến năm 2020, giá đất sẽ tiếp tục tăng gấp 3-4 lần, thậm chí 5-7 lần năm 2010.
Ông Hải bảo, ông chẳng phải nhà tiên tri đoán mò, mà ông nghiên cứu quá khứ của những nước phát triển mạnh mẽ như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, hoặc các lãnh thổ như Hồng Kông, Đài Loan… thì sẽ rõ cả. Hầu hết những nước tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ, thì đất đai đều tăng giá trị một cách chóng mặt.
Đồ gốm vẽ thủ công bằng vàng do ông Hải sáng tạo ra
Ngay trang bìa của đề án, ông Hải viết một “Tâm thư” ngắn gọn, với nhiệt huyết vô bờ gửi lên lãnh đạo cấp cao: “Sau 4.000 năm dựng nước và giữ nước, cả dân tộc ta đang đứng trước một bước ngoặt trọng đại chưa từng có: Phải chuyển từ một quốc gia nghèo nàn, lạc hậu thành một quốc gia giàu có, hùng mạnh. Thật là một khát vọng ngàn năm chưa bao giờ thành hiện thực! Gánh nặng lịch sử vĩ đại đó đang đặt trĩu trên vai Đảng… Là lãnh đạo tối cao của quốc gia, trách nhiệm cao nhất của Đảng là phải tìm trong đó cái nút quan trọng nhất, để làm chuyển động ngay tức khắc cỗ xe khổng lồ của đất nước…”.
Và trong “tác phẩm” này, bằng tất cả tâm huyết, vượt lên nỗi nhục tù đày, theo ông Hải, ông đã tìm được cái “nút thắt quan trọng nhất” khiến đất nước không vươn lên mạnh mẽ được. Nút thắt đó chính là “Vấn đề đất đai”. Điều kỳ lạ là ông Hải đã tìm thấy vấn đề quan trọng nhất này trong Chủ nghĩa Marx. Marx nói rằng “đất đai là tư liệu sản xuất quan trọng nhất”. Các nhà hiền triết ở nước ta đều thuộc câu nói đó của Marx, nhưng chưa chắc đã hiểu đến tận cùng.
Xưởng vẽ gốm của ông Hải
Để giải quyết được “núi thắt” này, ông Hải đã phải viết tới 200 trang sách với những lý luận cực kỳ sắc bén, hiện đại. Điểm mấu chốt trong cuốn sách này, là ông khẳng định rằng, chúng ta đang ngồi trên một “núi tiền” trị giá 1.200 tỷ USD. Chúng ta chưa biết khai thác, tận dụng “núi tiền” đó trong khi chúng ta luôn thiếu vốn trầm trọng.
Theo ông Hải, bài toán này bắt nguồn từ buổi hội thảo 2 ngày của 200 đại biểu là các nhà doanh nghiệp và lãnh đạo của 4 tập đoàn lớn của Hàn Quốc gồm Samsung, Hyundai, Daewo, L.G.Goldsta diễn ra vào năm 1989 tại Khách sạn Dân Chủ ở Hà Nội. Trước thời điểm đó, ông Hải đã có 10 năm nghiên cứu về “sự thần kỳ của Hàn Quốc”, do đó, ông không bỏ lỡ buổi hội thảo đặc biệt này.
Ông Hải bên sản phẩm gốm sang trọng.
Trong buổi hội thảo đó, các lãnh đạo tập đoàn Hàn Quốc đã trả lời hàng trăm câu hỏi của các giám đốc, các chuyên gia kinh tế. Họ đã bày cho đất nước ta các bí quyết để phát triển tăng tốc, rằng xây dựng đường sá thế này, nhà máy thế kia, cảng biển thế nọ… tóm lại là phải hiện đại hóa cơ sở vật chất, kỹ thuật, giáo dục…
Đến cuối buổi hội thảo ngày thứ 2, ông Hải đã đứng lên hỏi: “Tôi đã có 10 năm nghiên cứu về Hàn Quốc và tôi thấy rằng các ông đi từ không đến có, đó là một sự phát triển thần kỳ. Nguồn vốn FDI và ODA cũng như các nguồn vốn đầu tư gián tiếp, viện trợ kinh tế nước ngoài là không đáng kể. Vốn vay ít ỏi của nước ngoài chủ yếu nhằm mục đích kỹ thuật hơn là mục đích nguồn lực. Có thể nói rằng, các ông chủ yếu dựa vào nội lực để phát triển, trong khi đó, thời kỳ đầu canh tân, các ông còn nghèo nàn, lạc hậu hơn Việt Nam. Chúng tôi thừa biết phải hiện đại hóa thế này, thế kia, nhưng tôi xin hỏi một câu là các ông lấy từ nguồn nội lực nào để có một số vốn khổng lồ dành cho đầu tư phát triển, làm GDP tăng nhanh nhất thế giới suốt ¼ thế kỷ qua? Tóm lại, bí quyết tạo vốn từ nội lực của các ông là gì? Trong khi tất cả các bài học hiện đại hóa mà các ông truyền đạt cho chúng tôi đều cần rất nhiều vốn mà đất nước chúng tôi hiện nay lại quá thiếu vốn?”.
Sản phẩm sứ dùng để trang trí nhà cửa cũng có thể vẽ bằng vàng
Sau khi nhận được câu hỏi của ông Hải, họ đã hội ý vài phút bằng tiếng Hàn (trong khi cả cuộc hội thảo họ toàn dùng tiếng Anh), rồi ông Phó Chủ tịch tập đoàn Hyundai phát biểu: “Đây là câu hỏi hay nhất và quan trọng nhất của cuộc hội thảo. Song rất tiếc vì chưa chuẩn bị nên chúng tôi chưa thể trả lời tại đây được. Xin địa chỉ liên hệ của Ngài và sẽ trả lời sau”.
Ông Hải đã đưa địa chỉ cho họ, song ông tin rằng, sẽ không bao giờ ông nhận được câu trả lời, bởi đó là bí quyết của họ. Và sự thật, đến nay, 22 năm trôi qua, câu trả lời đó ông vẫn chưa nhận được.
Câu hỏi “Bí ẩn Hàn Quốc” ông Hải đã đi tìm trước buổi hội thảo đó 10 năm và phải sau đó hơn 10 năm nữa, vào năm 2002, lúc đang ngồi trong trại giam vì vi phạm luật đất đai, ông Hải mới trả lời được. Người Hàn Quốc đã biết “vốn hóa quỹ đất”, biến nguồn đất ít hỏi thành vốn và lấy nguốn vốn khổng lồ đó để làm “máu” cho con tàu kinh tế chạy không ngừng nghỉ, biến một nước nghèo nàn, lạc hậu thành một cường quốc chỉ trong vòng 30 năm.
Hơn 20 năm nghiên cứu, ông Hải đã trả lời được câu hỏi vì sao Hàn Quốc phát triển thần kỳ. Theo ông Hải, Hàn Quốc là mô hình tuyệt vời để chúng ta học tập.
Qua nghiên cứu của ông Hải, người Nhật và người Hàn Quốc đã biết vốn hóa quỹ đất của mình, để rồi họ có sự phát triển thần kỳ. Kinh tế càng phát triển mạnh,